Nữ quyền Việt Nam — “Cần đoàn kết đấu tranh cho quyền lợi lao động”

May Hai factory staff is in working hours. © ILO

Trong bối cảnh kinh tế xã hội thị trường ở Việt Nam hiện đại, đấu tranh vị nữ vẫn luôn là một vấn đề hết sức cấp thiết. Đi tìm lời đáp cho câu hỏi liên quan đến thực tế và phương hướng đấu tranh vị nữ tại Việt Nam, nhóm Mèo Mun đã phỏng vấn Nguyễn Ngọc Trân — tác giả từng có bài viết về vấn đề “nữ quyền Tân-tự do” trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
Độc giả quan tâm có thể tìm đọc thêm bài viết “Giải Huyền Thoại Về Hiệp Ước Hoà Bình Oslo” do Nguyễn Ngọc Trân đồng tác giả cùng các thành viên nhóm Vietnam Young Marxists và Mèo Mun.

Mèo Mun (MM): Bạn có thể giới thiệu bản thân với độc giả không?

Nguyễn Ngọc Trân (NNT): Xin chào, tôi là Nguyễn Ngọc Trân, hiện có quan tâm đến lĩnh vực Nhân loại học.

MM: Bạn thấy phụ nữ Việt Nam đã giành được những quyền lợi gì trong thời gian vừa qua?

NNT: Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đem lại những thay đổi to lớn cho phụ nữ Việt Nam, khi nhà nước thúc đẩy việc tiếp cận giáo dục và tham gia bầu cử của nhiều phụ nữ thuộc tầng lớp nông dân. Hình ảnh người phụ nữ Nam bộ quàng khăn rằn, cầm súng chống Mỹ đã trở thành nguồn cảm hứng của nhiều phong trào đấu tranh cánh tả ở Trung Đông hiện nay. Nghiên cứu của các nhà nhân loại học như Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi ở làng Hoài Thị cũng cho thấy, việc trong đám rước lễ nghi hội làng có mặt phụ nữ là thành tựu của chính sách bình đẳng giới từ phía nhà nước, bởi lẽ thời Pháp thuộc rước lễ không có phụ nữ tham gia. Hiện nay, phụ nữ Việt Nam đã leo lên được nhiều nấc thang quyền lực, một số người nắm giữ nhiều quyền lực và nguồn lực kinh tế quan trọng. Nhưng như vậy không có nghĩa là công cuộc đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ đã chấm dứt.

MM: Nhiều người nhận định rằng hiện nay nam nữ bình đẳng rồi, bởi phụ nữ cũng được tham gia vào các khu vực lao động như nam giới, không cần phải đấu tranh làm gì. Ý kiến của bạn về nhận định này?

NNT: Có một sai lầm mà nhiều người đấu tranh cho phụ nữ (feminist) theo hướng Chủ nghĩa Xã hội (socialist) thường mắc phải: họ cho rằng tham gia lao động kinh tế sẽ giúp phụ nữ thoát khỏi chế độ phụ quyền. Nhà nữ nhân loại học Aihwa Ong khi nghiên cứu các nữ công nhân tại công xưởng ở Malaysia đã nhận thấy, dù người phụ nữ có kiếm ra tiền từ công xưởng, họ vẫn phải chịu áp lực và sự kiểm soát vô hình của chế độ phụ quyền trong nhà máy, thiết chế tôn giáo và nhà nước. Điều này nghĩa là có những quyền lực trong quy tắc văn hóa từ phía hệ thống luôn liên tục sản sinh trong đời sống chúng ta, và chúng chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên bất bình đẳng giới. Điều khiến tôi lo lắng là các quy tắc văn hóa ấy đang kiểm soát thân thể của cả nữ giới lẫn nam giới trong các hoạch định mang tính lợi nhuận trong tương lai.

Vì vậy, tôi cho rằng đấu tranh cho bình đẳng giới không thể chỉ từ phía người phụ nữ, mà cũng phải nhìn từ phía nam giới. Giải phóng nữ giới cũng đồng nghĩa với việc giải phóng nam giới. Gần đây, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương cũng đã chia sẻ: chúng ta nhìn bất bình đẳng giới nhìn từ phía phụ nữ mà quên đi tiếng nói của nam giới trong câu chuyện này. Tôi cho rằng nam giới hiện nay cũng đang chịu ảnh hưởng của bất bình đẳng giới khi phải gánh vác nhiều trọng trách bất khả. Khi những trọng trách ấy không thành, cảm giác tuyệt vọng, tự ti thậm chí có thể khiến họ cùng quẫn tự tử. Thành ngữ “an cư lạc nghiệp” trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người đàn ông đang làm việc trong các đô thị lớn ở Việt Nam. “An cư” trở thành một tư tưởng mang gánh nặng vô hình trong đời sống tiêu dùng hiện nay; nghĩa là đàn ông phải đi làm, tiết kiệm tiền mua nhà thì mới có thể mơ tưởng đến một gia đình hạnh phúc với người phụ nữ mình yêu. Nếu nữ giới không cùng chia sẻ gánh nặng tư tưởng đó với nam giới, thì quả là khó khăn vô cùng cho người nam giới khi phải gánh vác những trọng trách vô hình nặng nề mỗi ngày.

MM: Quan sát và nhận định của bạn về đấu tranh vị nữ ở Việt Nam hiện nay? So với các quốc gia khác, đấu tranh vị nữ ở Việt Nam có những điểm đặc trưng gì?

NNT: Trong bối cảnh Việt Nam, tôi hiếm thấy ai tự nhận mình là một nhà nữ quyền, hay một người đấu tranh vị nữ (feminist). Nhưng những cuộc đấu tranh và phát ngôn về quyền cho phụ nữ vẫn diễn ra ở nhiều cấp độ, từ các tổ chức phi chính phủ cho đến các nhân vật nổi tiếng trong làng giải trí.

Tôi từng đề cập đến khái niệm “Nữ quyền Tân-tự do” ở Việt Nam trong những trao đổi trước đây. Câu hỏi đầu tiên đặt ra là Việt Nam thật sự có cái gọi là Nữ quyền Tân-tự do không? Chắc chắn Việt Nam sẽ không có một nền kinh tế Tân-tự do như Anh hay Mỹ bắt đầu từ thời Thatcher hay Reagan dưới sự ảnh hưởng Friedrich Hayek. Trong bối cảnh lịch sử khá phức tạp ở Việt Nam, từ thời chiến tranh đến giai đoạn hậu chiến cùng các chính sách tuyên truyền của nhà nước, nhiều học giả vẫn đang tranh luận xem liệu ở Việt Nam có tồn tại cái gọi là chủ nghĩa Tân-tự do hay không. Trong khu vực Đông Á, Aihwa Ong cũng đã lập luận rằng nhà nước sẽ sử dụng chủ nghĩa Tân-tự do một cách chọn lọc như là một phương thức để quản trị người dân. Điều này cũng cho thấy chủ nghĩa Tân-tự do sẽ bị bản địa hóa trong bối cảnh mỗi quốc gia khác nhau. Học giả Nguyễn Võ Thu Hương cũng nhận định, nhà nước Việt Nam sẽ sử dụng hình thức quản trị Tân-tự do phù hợp đối với các giai cấp, giới tính, được tổ chức bởi các thiết chế khác nhau. Chủ nghĩa cá nhân trong việc làm giàu là một biểu hiện rõ ràng của hệ tư tưởng Tân-tự do trong bối cảnh Việt Nam hiện nay: “bạn nghèo là do bản thân bạn không biết phấn đấu.” Ở Mỹ, Sheryl Sandberg với cuốn sách “Lean In” — đại diện cho “Nữ quyền Tân-tự do” đã bị học giả Catherine Rottenberg phê phán là chỉ hướng đến phụ nữ trung lưu và thượng lưu khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ hiện đại thành công là phải biết cân bằng giữa sự nghiệp và đời sống gia đình; thay vì kêu gọi phụ nữ đấu tranh để làm rõ cấu trúc kinh tế – xã hội gây ra bất bình đẳng giới thì lại cổ xuý phụ nữ chấp nhận hoàn toàn việc tự chăm sóc bản thân, tự tin, tự tối ưu, chỉ quan tâm đến hạnh phúc cá nhân và phụ nữ tự kinh doanh làm chủ. Điều này đã đập bỏ cuộc đấu tranh tập thể của phong trào Vị nữ trong lịch sử phương Tây, xóa bỏ tính giai cấp, sắc tộc trong cuộc đấu tranh đó. Đồng thời, nó cũng củng cố cho chính trị Tân-bảo thủ.

Tôi cho rằng “Nữ quyền Tân-tự do” ở Việt Nam sẽ là một dạng biến thể khác để phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam hiện đại. Tại Việt Nam, tôi quan sát thấy hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện đại cũng đang được xây dựng tương tự như vậy, nhưng nó còn gắn liền với chủ nghĩa tiêu dùng — một đặc điểm văn hóa của phụ nữ Việt Nam hiện đại. Nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng như nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới ở cấp độ nhà nước đã giải phóng một lực lượng lớn lao động nữ, dịch chuyển từ trong gia đình đến các nhà máy, văn phòng. Những năm vừa qua, các trang mua sắm bán lẻ trực tuyến nở rộ góp phần khiến chủ nghĩa tiêu dùng tại Việt Nam thêm sôi động. Theo như tôi quan sát từ rất nhiều nhóm trên Facebook của phụ nữ, các tài khoản Tiktok, các phát ngôn của một số phụ nữ nổi tiếng trong ngành giải trí thì hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thành công, độc lập ngày nay là phải kiếm được nhiều tiền, và phải tự dùng tiền bản thân kiếm được để mua sắm những gì mình thích mà không cần phải xin xỏ đàn ông. Chính diễn ngôn như vậy làm tôi thấy hình ảnh người phụ nữ gắn liền với chủ nghĩa tiêu dùng. Điều này khiến nhiều người phụ nữ có ảnh hưởng trên mạng xã hội phát ngôn theo hướng “bạn phải nỗ lực làm giàu, nếu không giàu được là do bản thân bạn chưa cố gắng.” Tôi thấy đó là một kiểu đổ lỗi cho nạn nhân điển hình. Thêm vào đó, tôi cũng nhận thấy rằng khi gắn vào chủ nghĩa tiêu dùng, chúng ta phải nỗ lực bằng mọi cách để kiếm tiền, chấp nhận những môi trường lao động rủi ro, không an toàn mà bỏ qua việc bảo vệ bản thân trước những xung lực từ môi trường lao động nguy hiểm đó. Trong nền văn hóa gia trưởng ở Việt Nam, những tư tưởng như phụ nữ học cao hoặc giỏi hơn đàn ông sẽ rất khó lấy chồng vẫn còn tồn tại. Điều này tạo ra một nghịch lý: một mặt phụ nữ tham gia vào việc kiếm tiền để giải phóng bản thân, mặt khác họ cũng phải đảm bảo toàn vẹn được gia đình truyền thống. Vì thế chế độ gia trưởng ở Việt Nam luôn phải tạo ra các diễn ngôn đại chúng khen ngợi hình ảnh người phụ nữ, người mẹ, người vợ có thiên chức duy trì tổ ấm hòa thuận thì xã hội mới có thể phát triển ổn định. Nhưng các diễn ngôn này không bao giờ đả động đến đàn ông. Phụ nữ Việt Nam vừa phải tái tạo hình ảnh người phụ nữ hiện đại mang tầm quốc tế, lại vừa phải tái tạo hình ảnh người phụ nữ gia đình đậm tính truyền thống.

Vì thế, khó có thể nói có một thứ “nữ quyền” đặc trưng riêng ở Việt Nam, do Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi xung lực tư tưởng của phương Tây trong quá trình Toàn cầu hoá, tuy luồng tư tưởng đó có bị bản địa hóa trong bối cảnh Việt Nam. Để định hình luồng tư tưởng vị nữ ở Việt Nam, ta có thể dùng từ “hỗn dung” để mô tả. Nhưng hiện nay, mô tả hình ảnh phụ nữ hiện đại như trong quan sát trên của tôi đang là trào lưu nổi bật.

MM: Theo bạn, thực trạng hiện nay của lao động nữ trong bối cảnh COVID-19 ra sao? Con đường nào cho đấu tranh vị nữ của người lao động nữ?

NNT: Nhà nữ Marxist là Teresa L. Ebert đã phê phán thứ phong trào vị nữ chịu ảnh hưởng Hậu-hiện đại là thứ phong trào vị nữ tào lao (ludic feminism) khi quy các cuộc đấu tranh vì phụ nữ thành “văn bản,” do đó xóa đi vấn đề giai cấp, sắc tộc. Nó cũng là tiền đề tạo ra thứ phong trào vị nữ đầy tính cá nhân, ích kỷ, và làm nền móng cho Nữ quyền Tân-tự do phát triển.

Riêng bản thân tôi không bao giờ ủng hộ phong trào vì phụ nữ theo chủ nghĩa cá nhân như vậy. Truyền thống của phong trào Vị nữ ở phương Tây là đấu tranh tập thể. Vì thế, nếu chỉ quy về cá nhân thì ta đang xóa bỏ truyền thống gắn liền với giai cấp, sắc tộc của phong trào Vị nữ. Là người chịu ảnh hưởng của truyền thống chủ nghĩa Marx, tôi tin rằng phong trào phụ nữ chính là đấu tranh cho phụ nữ đạt được những quyền lợi trong lao động tại Việt Nam. Niềm tin này càng được củng cố trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam — một nền kinh tế năng động mới nổi cùng nguồn nhân công giá rẻ, khiến người lao động dễ bị tổn thương, nhất là người lao động “bậc thấp.”

Đại dịch COVID-19 bùng nổ khiến nhiều nữ lao động nghèo, nữ công nhân và cả nhân viên văn phòng phải nghỉ việc, bị giảm lương, thậm chí bị quỵt lương. Đối với những người phụ nữ phải chịu bạo lực gia đình, đi làm là cứu cánh giải phóng họ khỏi bạo lực, nhưng giãn cách xã hội khiến họ phải ở trong nhà, khiến tình hình bạo lực gia đình thêm tồi tệ. Báo cáo cũng cho thấy bạo lực gia đình ở Việt Nam gia tăng nhanh chóng khi thực hiện giãn cách xã hội. May mắn thay, với sự nỗ lực từ phía nhà nước và người dân, dịch COVID-19 ở Việt Nam không trở thành khủng hoảng sâu sắc như nhiều quốc gia khác, nhưng nó tạo ra một vết nứt về lao động cho nhiều người chủ lợi dụng để cắt, trừ lương, thưởng, quỵt lương, trói buộc người lao động bằng nhiều mánh lới khác nhau. Những cuộc nói chuyện của tôi với người lao động nữ cho thấy phụ nữ làm việc ở khối văn phòng rất dễ thỏa hiệp với những hành vi sai trái của người sử dụng lao động. Điều này là bởi họ không có lựa chọn nào khác trước tình hình tìm kiếm việc làm vô cùng khó khăn trong thời điểm hiện nay.

Tôi cho rằng nếu tập thể phụ nữ không đoàn kết lại để đấu tranh cho quyền lợi lao động, thì dù đại dịch này có qua đi, phía người chủ vẫn sẽ tiếp tục viện vào cớ đó để thực hiện những hành vi gây tổn hại cho người lao động nữ. Trong công cuộc đấu tranh của người lao động, lý luận chủ nghĩa Marx — chứ không phải là các luồng lý thuyết khác — vẫn luôn là kim chỉ nam cho hành động thực tiễn.

MM: Cảm ơn bạn rất nhiều!

Posted By

Mèo Mun
May 24 2021 10:30

Share


  • Là người chịu ảnh hưởng của truyền thống chủ nghĩa Marx, tôi tin rằng phong trào phụ nữ chính là đấu tranh cho phụ nữ đạt được những quyền lợi trong lao động tại Việt Nam.

    Nguyễn Ngọc Trân

Attached files